Pages

Subscribe:

Tuesday, 23 February 2016

Cate Blanchett – nàng thơ ‘càng già càng cay’ của Hollywood

Nhận đề cử Oscar lần thứ sáu và có nhiều khả năng mang về tượng vàng thứ ba, minh tinh Australia đang ở thời kỳ viên mãn trong sự nghiệp.
 
Được biết đến rộng rãi từ Elizabeth (1998) và sau đó là loạt phim The Lord of The Rings, Cate Blanchett thuộc mẫu phụ nữ thông minh, quyến rũ không chỉ bởi vẻ đẹp đầy mê hoặc, mặn mà theo thời gian mà còn vì tài năng diễn xuất. Dù hóa thân vào kiểu nhân vật nào, từ chính diện đến phản diện, Cate cũng tạo nên dấu ấn cá nhân bằng nét diễn lôi cuốn từ nụ cười và đôi mắt.

cate-blanchett-nang-tho-cang-gia-cang-cay-cua-hollywood
Minh tinh người Australia - Cate Blanchett.

Giọng Anh kiểu Australia, đôi lúc nhấn nhá ngữ điệu đầy cá tính của cô cũng nằm trong số ít giọng nói khiến khán giả có thể nhắm mắt đoán trúng tên. Đó là lý do vì sao Cate Blanchett đã và đang là cái tên được lựa chọn nhiều nhất cho những đạo diễn chuyên làm phim về phụ nữ như Todd Haynes hay Woody Allen.

“Bông hoa nở muộn” với những bước đi chắc chắn 

Sinh ra ở Australia, Cate Blanchett khởi nghiệp với vai trò diễn viên sân khấu, sau khi tốt nghiệp một trường nghệ thuật. Cô bắt đầu mối duyên với điện ảnh ở tuổi 28, với kinh nghiệm và kỹ năng diễn xuất được đào tạo tương đối bài bản từ nhà trường. Những bước đi chậm mà chắc đầu tiên bắt đầu từ những vai diễn nhỏ để hình thành nên một diễn viên lớn.

Cate bắt đầu được khán giả chú ý với vai Nữ hoàng Elizabeth trong bộ phim cùng tên của đạo diễn Shekhar Kapur. Câu chuyện về nhân vật có thật trong lịch sử là bệ phóng giúp Cate từ một diễn viên trẻ vô danh trở thành ngôi sao thảm đỏ Hollywood với một đề cử Oscar ở hạng mục nữ chính. Từ đó, Cate tham gia vào những dự án điện ảnh lớn hơn.

Bước ngoặt thực sự đến trong sự nghiệp của cô là vai diễn trong bộ ba bom tấn The Lord of The Rings của đạo diễn Peter Jackson. Cate hóa thân xuất sắc vào nhân vật Galadriel và để lại dấu ấn khó quên trong tâm trí khán giả. Vai diễn này đã góp phần không nhỏ vào thành công của một trong những loạt phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại.

Nhìn vào sự nghiệp của Cate Blanchett, dễ thấy cô không phải là tài năng xuất chúng từ đầu. Hành trình Cate gây dựng chỗ đứng trong lòng khán giả đến ngày hôm nay là một chặng đường liên tục và bền bỉ. Cô không ngại thử sức với nhiều kiểu nhân vật và không ngừng nỗ lực thể hiện tốt ngay cả những vai khó nhất, từ phim bom tấn đến phim nghệ thuật, từ hài hước đến bi kịch.

cate-blanchett-nang-tho-cang-gia-cang-cay-cua-hollywood-1
Cate Blanchett đã hai lần nhận tượng vàng Oscar vào năm 2005 (trái) và 2014 cho vai diễn trong hai bộ phim là "The Aviator" và "Blue Jasmine".

Tượng vàng Oscar đầu tiên trong sự nghiệp vào năm 2005 với vai diễn trong The Aviator là ghi nhận cho những nỗ lực của Cate. Tài năng và tác phong làm việc chuyên nghiệp của cô đã được khẳng định. Tuy vậy phải đến khi Woody Allen trao cho Cate bộ phim tuyệt vời về những người phụ nữ - Blue Jasmine, tài năng và tên tuổi của cô mới thực sự trở thành thương hiệu. Tác phẩm mang về cho cô tượng vàng Oscar thứ hai trong sự nghiệp vào năm 2014.

Hài hước nhưng cay đắng và mỉa mai là cảm giác chung của khán giả khi chứng kiến câu chuyện dở khóc dở cười của Jasmine (Cate Blanchett thủ vai) trong Blue Jasmine. Woody Allen đã đưa người xem bước vào thế giới vụn vỡ của người phụ nữ khủng hoảng trong hôn nhân. Sống trong nhung lụa, chỉ tiếp xúc với giai cấp thượng lưu, trên người luôn luôn mặc những bộ cánh hàng hiệu đắt tiền, Jasmine dường như không biết đến cuộc sống của những người bình thường hay cách tự chăm sóc bản thân trong cảnh cơ nhỡ. Cô mù quáng tin vào người chồng và những gì anh ta dựng nên, sống hưởng thụ bằng tất cả sự phù phiếm.

Cate Blanchett đã nhập vai xuất sắc để thể hiện chân dung một phụ nữ hiện đại trống rỗng, cô đơn. Người xem tưởng như Cate đang kể câu chuyện cuộc đời mình, run rẩy và tội nghiệp. Vai diễn đó đã áp đảo những ứng viên khác.

Cơ hội giành tượng vàng thứ ba cho vai đồng tính nữ

Đạo diễn kiêm biên kịch Todd Haynes không chỉ chọn Cate vào vai Carol cho phim cùng tên, mà còn dựng nhân vật này theo thần thái, hình dung của ông về Cate. Carol trong phim là một người phụ nữ quyết đoán, có phong thái tự tin, nụ cười vừa bất cần, vừa quyến rũ. Trong đôi mắt cô luôn ẩn chứa nhiều điều muốn nói. Trên phương diện này, Cate Blanchett có lẽ không cần sử dụng nhiều diễn xuất.

cate-blanchett-nang-tho-cang-gia-cang-cay-cua-hollywood-2
Vẻ đẹp kiêu sa, quyến rũ của Cate Blanchett trong phim đồng tính nữ "Carol".

Phần xuất sắc và tinh tế nhất của Cate nằm ở tình yêu mà cô dành cho người phụ nữ trẻ tuổi, trong sáng - Therese. Cách cô đưa mắt lướt trên từng lọn tóc, từng đường nét khuôn mặt người thương, rồi ve vuốt, khêu gợi chân thực và sống động đến sững sờ. Trong gam màu trầm ấm, cổ điển của nước Mỹ những năm 1960, Carol là hiện thân cho tất cả tình yêu, lòng si mê, nỗi bất hạnh của những phụ nữ trong tình yêu, đặc biệt là những tình yêu gập ghềnh, trắc trở. Cate hẳn đã phải “ngược dòng thời gian” để sống trọn vẹn trong không khí giá buốt của mùa đông nước Mỹ, đi đứng, nói năng theo cách của người Mỹ và toát lên thần thái sang trọng, quý phái của một phụ nữ trong xã hội tư bản phân chia giai tầng.

Ở độ tuổi 47, Cate Blanchett vẫn là “nàng thơ” của điện ảnh Mỹ, một người phụ nữ truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ về sau. Thêm một tượng vàng Oscar cho Cate Blanchett với Carol sau Blue Jasmine mới đây (2014) có thể là một chút tham lam. Nhưng nhìn nhận một cách khách quan, Cate hoàn toàn xứng đáng được tưởng thưởng với màn thể hiện xuất sắc trong bộ phim đồng tính nữ gây chú ý nhất năm qua.

Hồi ký Trần Lập: Tuổi mới lớn túng quẫn trong quân khu Nam Đồng

Tháng ngày tuổi thơ chăm cha mẹ ốm đau, đời sống khó khăn, bí bách từng khiến Trần Lập có lúc muốn nhảy lầu cho xong mọi chuyện.
 
Cuốn hồi ký Rong chơi của giọng ca Bức Tường vừa ra mắt độc giả. Sách được viết qua lời kể của Trần Lập, Yo Le (Lê Thu Thủy) chấp bút. Tác phẩm không phải tiểu sử về cuộc đời nam ca sĩ mà nói về những đam mê của thủ lĩnh ban nhạc Bức Tường như âm nhạc, xe mô tô và những cung đường. Yo Le có sáu tháng đi theo Trần Lập trong các cuộc chơi, lục tìm quá khứ, nghiền ngẫm thực tại, chứng kiến biến cố bất ngờ trong đời Rocker.

Nhân dịp sách phát hành, VnExpress trích đăng bốn phần của cuốn sách này.

Phần 1: Tuổi mới lớn bí bách, túng quẫn

Vào những năm đầu thập niên 90, khi Trần Lập bước sang tuổi mười bảy mười tám, ước mơ ca hát nảy nở từ bé cùng tình yêu nhạc Rock đã biến chuyển thành một mơ ước rõ ràng hơn: cậu muốn trở thành ca sĩ và có một ban nhạc của riêng mình. Thế nhưng, cuộc sống khó khăn trong những năm tháng mới lớn này không phải là mảnh đất tốt lành nuôi dưỡng những ước mơ.

Hồi ấy, Trần Lập cùng cha mẹ sống trong một căn hộ chỉ vỏn vẹn 16 mét vuông nằm nép mình trên tầng ba của một khu tập thể xuống cấp và xập xệ trong quân khu Nam Đồng. Cha Trần Lập lúc này đã liệt nửa người do tai biến, trong khi mẹ cậu vì căn bệnh thấp khớp mãn tính nên cũng gần như bại liệt. Gia đình vốn đông con, nhưng các chị lớn đều đương phải bươn chải mưu sinh ở nước ngoài. Ở nhà, dẫu còn người anh trai là dân xã hội, nhưng bản thân anh còn có gia đình riêng cần lo toan nên ngoài chuyện đường phố ra cũng chẳng thể đỡ đần cậu được việc gì.

Từ việc cơm nước nhà cửa cho đến chăm sóc ăn uống vệ sinh cho cả hai người ốm, một mình cậu em út Trần Lập phải cáng đáng hết. Không những thế, vì cha mẹ đã mất sức lao động trong khi cậu đang ngồi trên ghế nhà trường nên lại phát sinh thêm gánh nặng cơm áo gạo tiền. Của nả trong nhà có bao nhiêu cũng lần lượt đội nón ra đi. Cho đến giờ, Trần Lập chỉ còn giữ lại được hai món đồ: chiếc máy khâu và hộp thuốc nhôm của bố. Nhiều khi nhìn cảnh nhà u tối mờ mịt, rồi lại nhìn sang cuộc sống vô ưu vô lo của bạn bè đồng trang lứa, cậu không sao tránh khỏi những suy nghĩ bồng bột của tuổi mới lớn. Có lúc túng quẫn quá, cậu chỉ muốn tung hê hết tất cả, muốn nhảy béng từ tầng ba nhà xuống cho đi xong hết những cục uẩn ức, nặng nề.

Chỉ có thể nói rất may rằng, cơn tiêu cực bay loạn xạ trong đầu nhưng vẫn chưa đủ để tạc thành hành vi. Thương bố mẹ, cậu lại cố gắng gồng mình lên vừa đi học vừa chăm sóc mẹ cha vừa từng bước tìm cách kiếm tiền. Lơ ngơ bước vào đời, có thể làm được việc gì Trần Lập đều xắn tay vào làm hết. 
Thậm chí có những công việc đẩy cậu đứng trên vạch ranh giới tranh tối tranh sáng, chỉ cần sảy chân một chút là có thể rẽ sang ngõ tối tự lúc nào...

hoi-ky-tran-lap-tuoi-moi-lon-tung-quan-trong-quan-khu-nam-dong
Trần Lập bên một chiếc Simson SR 4-4 - Dòng mô tô đầu tiên anh tập đi.
Vào khoảng thời gian học hè giữa năm lớp 11 và lớp 12, chị cả của Trần Lập ở bên Đức có gửi về cho hai anh em ở nhà mỗi người một chiếc xe Simson (Simson là dòng xe được ưu ái đặt cho cái tên "dòng xe vang bóng một thời", bởi vào những năm 1980 - 1990, nó được coi là niềm mơ ước của nhiều người, chỉ những gia đình có điều kiện mới có thể mua được). Sau khi tiêu hết chiếc xe của mình, anh trai bắt đầu gạ Trần Lập hãy bán nốt chiếc xe của cậu để cùng hùn vốn làm ăn với anh, còn dặn dò không được nói với ai, kể cả mẹ và chị cả. Sau một hồi loay hoay suy nghĩ không biết nên quyết định thế nào, rốt cuộc Trần Lập cũng xuôi theo, và rồi vỡ nhẽ vụ làm ăn kia hóa ra liên quan đến trò đen bạc. Cụ thể, cậu được anh trai thuê đi... ôm bảng đề.

Thời bấy giờ, người ôm bảng bao giờ cũng là thành phần rất có máu mặt và đúng lý sẽ được hưởng trọn phần ăn chia. Thế nhưng một cậu chàng ngây thơ như Trần Lập dĩ nhiên không hiểu được điều này, nên cậu đồng ý để anh trai quản lý hết số tiền thu được, và nhận mười nghìn tiền công vào mỗi cuối ngày. Thật ra, mười nghìn lúc đó cũng là một số tiền không hề nhỏ (bởi giá một bát phở khi ấy mới chỉ khoảng một nghìn rưỡi mà thôi), nhưng thực tế cậu cũng chỉ được trả đều đặn vài tuần, rồi tiền công cũng bốc hơi đi đâu mất. Thì chuyện đỏ đen muôn đời vẫn vậy, bao giờ chẳng là thắng ít thua nhiều. Khi thắng thì không sao, nhưng khi thua, ai cũng hiểu anh trai cậu làm gì có tiền để trả.

Bước chân vào một công việc có dính dáng tới giới giang hồ, nên Trần Lập cũng phải khoác lên mình tấm áo của dân xã hội. Tức là, trong những ngày tháng đó, cậu thường trực xuất hiện với hình ảnh mặc áo nato cùng quần ga, đầu đội mũ cối chóp vàng, chân đi đúc tàu, y chang bất cứ thành phần bất hảo nào trong các quân khu. Người bình thường nhìn thấy cậu tất sẽ nảy sinh cảm giác dè chừng, nửa sợ nửa khinh chứ chẳng bao giờ nghĩ rằng dưới cái bộ dạng kia, Trần Lập vẫn trần trụi là một cậu chàng ngây thơ với những niềm tin trong sáng. Cậu đơn giản là không thể cứ giữ lối ăn mặc thư sinh như trước, bởi cái hình thức ngông nghênh, bặm trợn ấy mới là thứ giúp cậu tồn tại được trong cái giới này. Nó giúp cậu tăng sức nặng trong lời nói, khiến cậu được vì nể trong các cuộc làm ăn.

Nhưng suy cho cùng, mớ áo giáp uy phong đó đâu phải cái Trần Lập thật sự cần. Điều cậu mong muốn chỉ giản đơn là có được một công việc tương đối ổn định, đủ chi trả cho cuộc sống khó khăn hàng ngày. Và hẳn nhiên, việc đi ôm bảng đề rồi nhận mấy đồng mười nghìn bập bà bập bõm lúc cuối ngày hoàn toàn chẳng đáp ứng được nguyện vọng đó. Vì vậy, ngay khi tìm được công việc khác, cậu bỏ luôn, trút hết đám áo nato, quần ga, mũ cối gì gì đó, khoác lên người những bộ đồ cũ giản dị mà bạn cùng lớp thương tình đem cho, rồi trở lại với cái bản chất lành tính vốn có của mình.